Anh (chị) hãy phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du

Nhắc đến Nguyễn Du người ta thường nghĩ ngay đến thiên cổ tình thư Truyện Kiều của ông. Điểu ấy có lí do của nó. Truyện Kiều là một thành công kiệt xuất của thơ ca tiếng Việt. Nhưng bẻn cạnh Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du còn làm rất nhiều thơ chữ Hán có giá trị – cũng vò xé, cũng nhức nhối lòng người không khác gì khúc nam âm tuyệt xướng ấy. Độc Tiều Thanh ký là bài thơ chữ Hán trác tuyệt, sinh hoa diệu bút của đại thi hào Nguyễn Du, được xếp trong Thanh Hiên thi tập. Bài thơ đã bộc lộ một cách sâu sắc cái nhỉn cảm thông của tác giả trước những thân phận tài hoa mà bạc mệnh trong xa hội cũ và dường như đó còn là bức thông điệp tình thương nỗi nhói buốt can tràng của muôn đời.

Ô! Tiểu Thanh, nàng là ai vậy? “Con tạo hoá vốn yêu thương tài sắc, nàng đã biết thế hay chưa? Người khôn thì hay gặp gian truân, chuyện đời khéo làm trò quanh quẩn”. Chuyện của đời nàng sao nhiêu uẩn khúc phải chăng cùng là chuyện của bao người “tài tình chi lắm cho trời đất ghen” trong xã hội phong kiến kéo dài hàng mấy trăm, mấy nghìn năm xưa. Xã hội ấy đâu có dùng nổi những người tài sắc, đa cảm khiến những người như Đỗ Thập Nương phải làm kỹ nữ, những Thuý Kiều phải bán minh, truân chuyên, lận đận… hay những Lâm Đại Ngọc của Tào Tuyết Cần – thân ôi cái đẹp thì mong manh và yểu mệnh, tài sắc thì dễ bị dập vùi. Chắc nàng Tiểu Thanh phải có nét mặt sầu rầu như Bao Tự. Nàng sống vào đầu đời Minh – tức là từ năm 1368 đến năm 1644. Nàng là người tài sắc, có chồng nhưng hẩm hiu thay chỉ là vợ lẽ. Tài sắc của nàng bị vợ cả ghen tuông đọa đầy cho hả dạ. Nàng bị bắt phải sống một mình trên núi Cô Sơn cạnh Tây hồ, chăng bao lâu đau buổn mà chết, bấy giờ mới mười tám tuổi. “Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương”, câu thơ viết về Đạm Tiên ấy không chi vận vào nàng Kiều mà còn là chuyện của những người con gái có tài sắc mà bị ghen ghét, đến nỗi văn chương cũng bị vạ lây như nàng Tiểu Thanh nước Trung Hoa. Khi Tiểu Thanh còn sống, nàng làm rất nhiều thơ bộc bạch nhừng lời gan ruột – chắc thơ cũng như người, hay nhưng thấm đẫm nỗi buổn, uất hận – nhưng khi nàng chết người vợ cả chưa tắt lửa hờn ghen nên tìm lục đốt thơ nàng hòng xoá sạch dấu vết. Sau khi nàng vĩnh viễn không còn làm thơ trên cõi trần này nữa, nhiều người thương tiếc bởi trong đống tro tàn chỉ còn sót lại vài bài làm thành một tập thơ mà người đời thường goi là “phần dư cảo”.

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

(Truyện Kiều)

Phải chăng đó là giọt nước mắt xót thương của thi nhân nhỏ xuống số phận bi thảm của Đạm Tiên, của Kiều, của Long Thành cấm giả ca, của Ngô Gia đệ cựu ca cơ và bây giờ là Tiểu Thanh? Giọt nước mắt ấy là giọt nước mắt của mối đồng cảm đặc biệt mang những nỗi ám ảnh, ngậm ngùi về thân phận con người., Bài thơ thất ngôn bát cú xinh xắn Độc Tiều Thanh ký đã bộc lộ những cảm xúc rất trần gian, rất con người, tức là rất nhân văn của một nhà thơ lớn Việt Nam sau khi đọc phần dư cảo ấy. Bài thơ là cả một biến trời tình thương và nếu muổn lấý dẫn chứng vế cách viết thơ hàm sức dư ba thì không thể không coi bài thơ này là một mẫu mực. Đọc xong bài thơ rồi, cảm xúc trong lòng ta như vẫn còn vang ngân, khác khoải, day dứt. Sống ở trên đời có được thứ tình cảm cao thượng ấy thật quý vậy thay!

Từ đầu đời Minh, cái lúc nàng Tiểu Thanh sống và chết, cái lúc nàng quằn quại trong cái ghen Kiều Hoạn Thư tàn nhẫn đến lúc này, Nguyễn Du không phải đứng trước mộ nàng mà chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ. Theo nghiên cứu của nhà phê bình Trương Chính, khi đi sứ ở Trung Quốc năm 1813, Nguyễn Du không vượt sông Trường Giang, không đến Tây Hồ nơi Có núi Cô Sơn, mộ nàng Tiểu Thanh, mà xuôi thuyền theo dòng Trường Giang về võ Xương – khi Nguyễn Du viếng di chỉ của một người mệnh bạc, thời gian đã hơn ba trăm năm. Ba trăm năm thật quá đủ để một người bị lãng quên, đủ để nương dâu thành bãi biển. Nhưng đối với cả hai con người ấy lại khác, họ có mối đồng bệnh tương liên. Một người con gái như Tiểu Thanh lẽ nào lại không lưu lại trong lòng hậu thế những nỗi day dứt dằn vặt khổ đau? Một người có trái tim lớn như Nguyễn Du lẽ nào lại dửng dưng, thờ ơ trước lời xưa của một hồn đau vọng về? Và Nguyễn Du đã viết Độc Tiểu Thanh ký với tất cả tấm lòng. Phải trên hết là tấm lòng, sau đó mới là dụng công nghệ thuật. Bởi lấy tấm lòng để hiểu tấm lòng, mới thấu được những lòng đau

Mở đầu bài thơ Nguyễn Du viết:

Tây hồ hoa uyển tận thành khư

Độc điếu song tiên nhất chi thư.

Dịch giả Vủ Tam Tập dịch là:

Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,

Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.

Nếu Thuý Kiẽu đến với Đạm Tiên trước nấm đất sề sề bên đường, thì ở bài thơ này, nhà thơ đến với Tiểu Thanh đáng thương trước hai di vật: cái gò hoang tức núi Cô Sơn, nơi trước đây nàng bị vợ cả hắt hủi và mảnh giấy tàn tức những bài thơ não nùng tâm can còn sót lại

Từ hai di vặt này. Nguyễn Du đã phi lộ và tạo cho minh nguồn cảm hứng sâu xa Xưa viếng Đạm Tiên, nay viếng Tiêu Thanh – “cùng một lứa bên trời lận đận”. Mộng Liên Đường chủ nhân đã nói đúng “Trong trời đất dã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình Tài mà không được gặp gờ, tình mà không được hả hê, đó là cái căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy” Tài thơ của Tiểu Thanh thời ấy có ai biết đến, có ai ngường mộ ngợi khen, hay phải chịu lụi tàn bởi ngọn lửa bất nhân tính; tình của Tiếu Thanh thời ấy, có dược đến đáp trọn vẹn hay không, hay là phải gánh chịu cai ghen ngút trời. Cái căn nguyên áy thật xót xa. Hồ Tây đẹp là vậy, giờ Tiểu Thanh chết rồi, bên cạnh mộ của nàng, núi cô Sơn trở nên lạnh lẽo, hoang vầng và tàn tro. Cảnh đẹp và gò hoang là hai khái niệm đổi lập. Cành đẹp thì lộng lẫy, sinh động, có sức sống nay trở thành gò hoang tức là cùng với con người chôn sâu vào huyệt lộ – “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Thế là cuộc sổng đã dến hồi tàn tạ, thảm khốc, héo hon, trớ trêu và nghịch cành. Thế đấy, sự thay đổi vẫn diễn ra trong cuộc sống, cái gì rối cũng lụi tàn cùng với bụi thời gian sắc úa màu phai. Đọc di cảo của Tiểu Thanh, nhà thơ càng nhận ra cái quy luật biến thiên ấy của đời sống. Nhà thơ trước đó đã nhận ra cái quy luật phũ phàng ấy rồi, từ sự chiêm nghiệm của chính bàn thân và đời mình, bởi vậy mà tác giả đã viết một cách đau thương tâm:

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Ba trăm năm sau, cùng với biết bao dâu bể, tất cả những gì gợi nhớ về con người ấy hầu như bị huỷ diệt tàn phá. Đến hôm nay con người tài sắc một thời ấy chỉ còn lại có một tập thơ nhỏ. Nguyễn Du chỉ còn dược biết về nàng, dược viếng hồn nàng, thổn thức tỏ lòng thương cảm vô bờ qua việc đọc tập thơ trước cửa sổ. Trong những câu thơ vào đề, Nguyễn Du đã tỏ rõ tấm lòng đồng cảm của mình về một đời người, về cả cuộc đời chung. Chơ nên nói về “Tiểu Thanh ký” thật ra là Nguyễn Du nói về Tiểu Thanh, nói về con người chứ không phải nói về những bài thơ. nói về nghệ thuật, ở hai câu thực, nhà thơ tiếp tục suy tưởng, thổn thức về thân phận và tài hoa của nàng Tiếu Thanh:

Chi phấn hữu thần liên từ hậu

Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.

Nói đến son phấn là nói nhan sắc, nói văn chương là nói đến cái tài. Son phấn thì làm gì có thần nhưng Nguyễn Du đã tạo hồn, tạo thần cho nó để rồi cũng biết hận biết đau nỗi đau bị vùi dập .Nói “son phấn có thần” hẳn Nguyễn Du muốn nói đến giá trị cao qúy, bất tử của nhan sắc người đẹp. Phải, nhan sắc – cái đẹp chính là giá trị quý báu của cuộc sống, nó có sức sống bất tử vì thế mà ba trăm năm sau cho dù hoa uyển có tàn tạ, hồ Tây có hoang phế, núi Cô Sơn có trở thành gò đồng xấu xí thi nhan sắc của Tiểu Thanh vẫn không bị lãng quên, ít nhất là nó gây niềm thương cảm ngậm ngùi trong lòng người. “Chi phấn hữu thân” riêng một ý thơ này đủ để khẳng định con người nhân đạo chủ nghĩa đáng quý trong tâm hồn, trái tim Nguyễn Du. Trong xã hội phong kiến với hệ tư tường phong kiến, mấy ai dám nghĩ như vậy về “son phấn”, về vẻ đẹp của người phu nữ. Son phấn là sắc đẹp giai nhân. Còn văn chương là nói đến văn tài. Sắc tài là vậy nhưng làm sao tránh khỏi tài mệnh tương đô, tạo hoá trêu ngươi, thậm chí chính tài sắc lại là nguyên nhân của tai hoạ Cho nên con người bị vùi dập, chà đạp một cách tàn nhẫn:

Có tài mà cậy chi tài,

Chữ tài liên với chữ tai một vần.

Văn chương là vật vô tri, làm gì có số mệnh, định mệnh. Ấy vậy mà đối với Nguyễn Du văn chương củng có mệnh, cũng biết vương vấn, cũng biết “luỵ” trước những nỗi oan khuất của kẻ tài hoa Vợ cà đốt thơ Tiểu Thanh. Thế là văn chương củng cùng với con người bị nguyền rủa, bị căm thù, bị tàn phá, tiêu huỷ. Vậy thì văn chương cũng hữu mệnh như con người – thật là một buổi chiều thư tê tái – buổi chiểu của xã hội phong kiến ở Việt Nam, ở Trung Quốc phàn ánh trong tâm hồn Nguyễn Du khi tất cả những cái gì đẹp đo Cao khiết đều bị dập vùi. Hai câu thực đã khầng định lòng cảm thương sâu sắc và nỗi oán hận, nỗi uất ức của ông đối với thời đại, khẳng định bàn chất, tâm hồn Nguyễn Du. Bàn chất ấy vượt, xa so với thời đại. Bàn chất ấy là bản chất nghệ sĩ nhưng không phài là nghệ sĩ nào củng có được. “Son phấn có thần chôn vẫn hận – Văn chương không mệnh đốt còn vương” – một ỷ nghỉ như thế thật là táo bạo, ngay cả đến thời đại chúng ta.

Hai câu luận tiếp tục khai triển niềm thương cảm của Nguyễn Du đôi với thân phận bé nhỏ của con người. Một câu hỏi khác khoải, quan hoài vang lên đầy xót xa:

Cổ kim hận sư thiên nan vần

Phong vấn kỳ oan ngã tự cư.

Vẫn là cái hớn. cái hận của Tiểu Thanh nhưng đã nằm trong cái hân cua muôn đời. muôn người – một cái hận triền miên dài đến nghìn năm day dứt mãi khôn nguôi. Cái nỗi đau nhản tình thế thái, cái nỗi hận cổ kim từ xưa đến nay ấy thật khó mà hỏi trời. Trời thăm thẳm, trời cao xa quá, tận trên chín tầng mây làm sao hỏi được đây. Nhà thơ đa từ cái hận của muôn đời mà thấu hiểu cái hận của Tiểu Thanh, đã dồn cái hận của Cổ kim vào cái hận của nàng, bởi thế cái hận đó trở nên có sức mạnh, có sức lay động lòng người. Và không hỏi dược, không lý giải được lại càng thêm hận, khiến cái hận trở nên thấm thía. Với những thanh trắc (Có, hận, sự, vốn), Nguyễn Du đã diễn tả một cách đầy bi phẫn nỗi đau của những con người tài hoa bạc mệnh. Tác giả đau đớn, căm giận trước sự thất bại của cái đẹp, cái thiện, trước sự thắng thế của cái ác và do có lời thơ đã tố cáo mạnh mẽ cái chế độ phong kiến hà khác với những ’’khuôn phép bất nhân” (chữ dùng của Xuân Diệu) chà đạp con người, đặc biệt là con người tài sắc, yếu đuôi. “Phong vận kỳ oan ngã tự cư”- “Cái án phong lưu khách tự mang”. Cái án phong Iưu là án gì? Phải chăng đó là cái án của con người tài sắc. Là con người tài sắc mà phải chịu cái án ấy – cải án bị đọa đày, bị hắt hủi, bị hành hạ cho đến chết thì thật không can tâm “Khách” ở đây là ai? Sao cái án ấy khách lại tự mang vào minh? Khách tự mang là do “lòng cảm cựu ai xui thương mướn” hay là vì một nguyên do nào khác. Không, đó là cách tự vận vào mình một cách cao cả, đó là cái “thông luỵ của bọn tài tử trong gầm trời và suốt cả xưa nay vậy”. Nguyễn Du cũng là một trong những người có tình hữu ái ’’nhất phiến tài tình thiên Có luỵ” bởi đó mà tự coi mình là đồng hội đồng thuyền với kẻ mang nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã. Nhà thơ thông cảm với Tiểu Thanh, bênh vực cho Tiểu Thanh, uất ức mà khóc cho Tiểu Thanh. Cũng như Chu Mạnh Trinh – một người si tình, tài tử sau này của Việt Nam đă khóc viếng những thân phận hồng nhan đa truân:

Thân ôi

Một bước phong trần

Mấy phen chìm nổi

Trời tình mờ mịt

Bể giận mênh mông

Sợi tơ mành theo gió đưa đi

Cánh hoa rung chọn gì đất sạch.

Những Khuất Nguyên, nhừng Nguyễn Trãi, những Nguyễn Du. Chu Mạnh Trinh tự mang cái án oái âm vào minh bởi họ khồiìg phải là những người thường như chúng ta. Họ là nhà văn, nhà thơ có trái tim mẫn cảm, đa cảm, giàu lòng nhản ái. Chúng ta thương Tiểu Thanh, thương Kiều nhưng cũng không thể đạt được mức độ tình thương như họ, tức là không đấy được mức độ cảm xúc dâng tràn để cò thể viết ra những dòng thơ xuất phát từ trái tim. Phải họ là những người đồng hội đồng thuyền, cùng có nòi tình thương người đồng điệu. Và Nguyễn Du đã nhập thân vào Tiểu Thanh để gợi lên những điều nhức nhối trong bao đời nay.

Đau đớn trước nỗi oan lạ kỳ của Tiểu Thanh, xót xa trước sự quên lãng của người đời, Nguyễn Du khóc cho Tiểu Thanh – một người con gái hồng nhan đa truân của hơn ba trăm nãm về trước và đặt câu hỏi lớn cho ba trám năm sau:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa

Người đời ai khóc Tố Như chăng?)

Hai câu kết, Nguyễn Du chuyển mạch cảm xúc để tự khóc mình, ấy vậy mà không hề lạc điệu, rời rạc mà vẫn phù hợp, vẫn đảm bào bài thơ là một chỉnh thể. Từ sự xót thương kiếp tài hoa mệnh bạc cùa Tiểu Thanh, từ tâm sự cùng hội cùng thuyền tự đặt minh vào nỗi oan khiên đổ, tác giả liên hệ đến bản thân mình, nghĩ đến thân phận mình cũng giống nàng cho nên nói người hoá ra nói mình, thương người hoá ra tự thương mình và băn khoăn không biết sau này ba trăm năm lẻ nữa có ai còn nhớ đến mình, khóc cho mình như mình khóc cho Tiểu Thanh không? Vì thế khóc cho người rồi khóc cho mình là phù hợp với mạch cảm xúc của Nguyễn Du Ba trăm năm không hoàn toàn là một con số chuẩn xác.

Hai câu kết đã hé mở một thế giới riêng của một con người mà từ trước ta ít để ý: đó là con người Tố Như với nhừng băn khoăn, trăn trở, riêng tây. “Nguyễn Du không hề nói đến Tố Như, bỗng nhiên nhân câu chuyện Tiểu Thanh, lại tự hỏi một câu vớ vẩn. Một tấm lòng vẫn dấu che, bỗng lộ trong một phút giây, chệch nhẹ bức mành, mà ta trông được cả một thê giới còn chưa nói” Dường như Nguyễn Du muốn đưa ra một lời dự cảm, một lời tiên tri: hơn ba trâm năm sau chắc còn có người khóc minh có nghĩa là phải khóc thương cho số phận chịu nhiều đau khồ, nhân loại vẫn còn những con người tài hoa nhưng bạc mệnh. Đó là một nỗi buồn sâu lắng vế cuộc đời cũng là một triết lý sâu sắc về thuyết tài mệnh tương đỗ. Ông thương cho người xưa, thương cho chính minh và thương cho cả người sau phải khóc minh nữa. Con mắt trông thấy sáu cõi, hay tấm lòng nhân dạo của Nguyễn Du là như vậy đó.

Một điểu nữa khi nói về hai câu kết của bài thơ Độc Tiểu Thanh ký, giáo sư Bùi Văn Nguyên cho rằng dó không phài là hai câu kết của bài thơ mà là hai câu thơ trối trăng của nhà thơ trước khi qua đời ráp vào bởi vì hai câu này thất niêm:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tô Như

(Là B T B

T B T

thông thường thì phải : T B T (cảu 7)

B T B (câu 8))

Thiết nghĩ phá cách, phá luật không phải là sự “non tay” của đại thi hào mà có khi là dụng ý nghệ thuật độc đáo bời các nhà thơ lớn không bao giờ câu nệ.

Các nhà thơ lớn của Trung Quốc như Đỗ Phủ, Lý Bach củng có những câu thất niêm như vậy.

Bài thơ Độc Tiểu Thanh ký đã cho thấy tấm lòng nhân hậu, cảm tháng của Nguyễn Du mênh mông sâu nặng biết nhường nào. ông có tình thương bao la với những kiếp người tài hoa, bạc mệnh dù là người Việt Nam hay Trung Quóc. Rồi ông lại tự vận vào mình cái án phong lưu để mà tự đau, tự thương cho minh bơ vơ, không tri âm, tri ky trước cõi đời. Trong văn chương thời trung đại, quan niệm “vô ngã”, “phi ngã” chi phối dễ gì có nhiều người biết thương mình, thương một cách cực độ như Nguyễn Du. Nguyễn Du luôn sống mãi trong lòng người với tình thần nhân đạo cao cả xứng đáng là nhà nhân đạo lớn.

Nguồn: Sưu Tầm

Bài viết liên quan