Dàn ý Phân tích những bài ca dao hài hước hay nhất – Ngữ văn lớp 10

Bài làm

Đề bài: Dàn ý Phân tích những bài ca dao hài hước

Dàn ý mẫu

I. Mở bài

– Giới thiệu về ca dao: Là thể loại trữ tình dân gian kết hợp giữa lời và nhạc diễn tả đời sống nội tâm của con người.

– Giới thiệu về chùm ca dao hài hước: Tập trung những nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam nhằm tạo ra tiếng cười, phê phán những thói hư, tật xấu.

II. Thân bài

1. Tiếng cưới tự trào, vui tươi hóm hỉnh (bài 1)

* Lời dẫn cưới của chàng trai:

– Sử dụng biện pháp liệt kê, chàng trai đưa ra một loạt vật dẫn cưới: voi, trâu bò, chuột béo.

– Lối nói khoa trương, cường điệu, phóng đại: Chàng trai định dẫn cưới bằng những lễ vật rất có giá trị.

⇒ Chàng trai đang tưởng tượng về một lễ cưới linh đình, sang trọng. Đó là ước mơ của những chàng trai thôn quê về một ngày vu quy sung túc.

– Cách nói giảm dần từ voi – trâu – bò và cuối cùng dừng lại ở con chuột béo: Tái hiện lại hành trình từ tưởng tượng đến trở về với hiện thực của chàng trai.

– Thủ pháp tương phản đối lập được sử dụng tài tình, khéo léo để nói về hiện thực: Dẫn voi – quốc cấm, dẫn trâu – máu hàn, dẫn bò – co gân.

⇒ Lời giải thích hợp tình hợp lí, chính đáng vì lí do chấp hành pháp luật, lo cho sức khỏe họ hàng hai bên chứ không phải vì chàng trai không có.

⇒ Cách nói thể hiện sự hài hước, dí dỏm, đáng yêu, thông minh của chàng trai.

– Chi tiết hài hước: “Miễn là có thú bốn chân/dẫn con chuột béo mời dân mời làng”

+ Thú bốn chân gợi ra hình ảnh những con vật to lớn, có giá trị

+ Con chuột béo: Loài vật nhỏ bé, có hại và bị người nông dân ghét bỏ.

+ Sự bất thường của chi tiết: Xưa nay chưa từng thấy ai mang chuột đi hỏi vợ và cũng không thể có một con chuột nào to lớn để có thể mời dân mời làng.

⇒ Chi tiết hài hước vừa đem lại tiếng cười sảng khoái, vừa thể hiện sự vui tươi, hóm hỉnh của chàng trai, một tâm hồn lạc quan, phóng khoáng, yêu đời.

* Lời thách cưới của cô gái

– Thái độ của cô gái

+ Trước lời dẫn cưới của chàng trai cô gái “lấy làm sang”.

⇒ Đây là cô gái dí dỏm, vui tươi không kém bạn đời

+ Lời nói “Nỡ nào em lại phá ngang”

⇒ Ý nhị, khiêm tốn, thông cảm với hoàn cảnh của chàng trai

– Thủ pháp tương phản đối lập: người ta – nhà em, lợn gà – nhà khoai lang

⇒ Sự độc đáo, bất thường trong lời thách cưới bởi những lễ vật ấy bình dị đến mức tầm thường. Chính điều này đã tạo nên tiếng cười đùa vui, hóm hỉnh

– Lời giải thích của cô gái về yêu cầu của mình:

+ Cách nói giảm dần: To – nhỏ – mê – rím – hà

⇒ Cô gái sẵn sàng đón nhận những lễ vật tầm thường, không cần lựa chọn, sắp xếp gì.

+ Lễ vật được cô chia phần, sắp xếp hợp lí: Mời làng, mời họ, con trẻ, lợn gà

⇒ Cô gái là người phụ nữ đảm đang, tháo vát, khéo léo, sống có trước có sau, coi trọng tình nghĩa.

→ Thông qua lời thách cưới và dẫn cưới bất bình thường của chàng trai và cô gái đã cho thấy tâm hồn lạc quan, yêu đời, hài hước của những chàng trai, cô gái thôn quê trong cảnh nghèo khó. Chàng trai tự ý thức được cái nghèo của mình mà tự trào, tự cười cợt, cô gái thấu hiểu cảnh ngộ của hai gia đình mà vui vẻ đón nhận vì cô là người coi trọng tình nghĩa hơn của cải.

2. Tiếng cười phê phán, mỉa mai, châm biếm

a. Bài 2

– Câu ca dao mở đầu bằng chí “làm trai”

+ Làm trai: Phải mạnh mẽ, cứng cỏi, khỏe khoắn, quyết đoán, là trụ cột của gia đình và xã hội

+ Liên hệ với chí làm trai trong văn dân gian và văn học trung đại

“Làm trai cho đáng lên trai

Xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài yên”

(Ca dao)

“Vũ trụ nội mạc phi phận sự”

(Cao Bá Quát),

– Thủ pháp tương phản đối lập:

+ “Khom lưng chống gối”: Gợi động tác mạnh mẽ, dứt khoát của một người làm công việc nặng nhọc, vất vả

+ “Gánh”: Hoạt động di chuyển những vật nặng

+ Hai hạt vừng”: Thứ vô cùng nhỏ bé nhỏ bé

⇒ Tiếng cười được cất lên. Tư thế khoa trương nhưng hành động tầm thường

→ Chế giễu người đàn ông yếu đuối, tầm thường không đáng làm trai

→ Tiếng cười không chỉ đả kích mà còn là lời nhắc nhở sâu cay về thói hư, tật xấu của con người

b. Bài 3

– Cặp từ đối xứng chồng em – chồng người: Chứa đựng ngụ ý so sánh hơn thua

– Chồng người – Đi ngược về xuôi, tung hoành ngang dọc, thỏa chí tang bồng, tháo vát tài giỏi

⇒ Thể hiện sự ngưỡng mộ, trân trọng

– Chồng em – quanh quẩn nơi xó bếp sờ đuôi con mèo, lười nhác, đoản chí, không đáng mặt trang nam nhi

⇒ Thể hiện sự thất vọng, buồn bã

→ Qua sự đối lập, tương phản, bài ca dao đã nói lên lời tâm sự, niềm thất vọng, xấu hổ của cô vợ có anh chồng lười nhác, hèn kém.

→ Phê phán, chế giễu loại đàn ông lười nhác, thấp hèn, không có ý chí.

→ Là bài học cho những kẻ làm trai, làm chồng về lối sống và phẩm chất.

c. Bài 4

– Hình ảnh người vợ.

+ Quan niệm về người phụ nữ xưa: Dịu dàng, khéo léo, đảm đang, tháo vát, biết chăm sóc cho bản thân, cho chồng con. Nhưng người vợ trong bài ca dao lại được khắc họa vô cùng đặc biệt.

+ Ngoại hình: lỗ mũi mười tám gánh lông

⇒ Hình ảnh phóng đại bất ngờ tạo ra tiếng cười sảng khoái. Bài ca dao sử dụng cách chơi chữ “gánh lông” để miêu tả về một chiếc mũi kinh dị, kì quái

+ Những tật xấu: Đêm nằm gáy o o, đi chợ hay ăn quà, bẩn thỉu (trên đầu những rác cùng rơm)

⇒ Phép liệt kê tăng tiến những thói xấu của cô vợ không chỉ ở nhà mà còn ra ngoài cả xã hội, phóng đại làm nổi bật những tật xấu, sự vô ý tứ không thể chấp nhận ở một người phụ nữ.

→ Chế giễu người phụ nữ xấu người xấu cả nết, vô duyên đỏng đảnh.

– Hình ảnh người chồng:

+ Trân trọng chiếc mũi kinh dị của vợ, xem đó là của hiếm “râu rồng trời cho”.

+ Trước những tật xấu của vợ, anh chồng còn bao biện mà không góp ý: “gáy cho vui nhà”, “về nhà đỡ cơm”, “hoa thơm rắc đầu”.

→ Người chồng yêu thương, nâng đỡ, che chở cho vợ một cách mù quáng, bao biện cho vợ bằng những lí lẽ ngụy biện, phi lí.

♦ Bài ca dao không chỉ đem lại tiềng cười đầy sảng khoái mà còn mỉa mai, chế giễu những thói hư, tật xấu của con người

♦ Khuyên người phụ nữ phải biết giữ gìn vẻ đẹp của mình, không nên sống buông thả, lôi thôi, luộm thuộm. Như vậy, vừa làm hạ thấp mình, vừa không tôn trọng người xung quanh.

♦ Cảnh tỉnh những anh chồng yêu vợ một cách mù quáng, không có chính kiến, không biết góp ý chân thành để người mình yêu thương trở nên tốt hơn.

III. Kết bài

– Khái quát lại đặc điểm chung của ca dao hài hước

– Trình bày ấn tượng của mình về ca dao hài hước: ngắn gọn, súc tích, đem lại tiếng cười trực tiếp vừa ròn rã vừa sâu cay để châm biếm, nhắc nhở, thức tỉnh chứ không phải dán cách, ghét bỏ.

error: Xin vui lòng không copy nội dung tại trang này!