Văn tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm: Hiên trước nhà

Tôi định hôm nào về xóm Chẹt ghé lại nhà quen, uống một ngụm nước mưa đã đời, xong rồi nằm chò co chỗ bộ vạc đằng trước nhà ngủ một giấc dài thật sâu. Rồi nghĩ, chắc là không ngủ được, vì nhớ…

Tôi chắc dù đất xóm Chẹt có thay đổi cỡ nào, tôi có già cốc thùng thiết đi, mình vẫn nhận ra ngôi nhà ấy, ngôi nhà của một bà già hiền như bà nội, bà ngoại mình. Tôi không nhớ rõ khuôn mặt của bà, có thể mặt bà đầy những nếp nhăn, có thể lưng bà còng, có thể bà cũng nhai trầu bỏm bẻm như bao bà má quê khác. Cái tôi mường tượng rõ nhất là đằng trước ngôi nhà bà, chỗ sát hàng ba, lúc nào cũng có cái lu nước mưa với bộ vạc cao và hai cái đôn sứ hình con voi đã bị gãy mất vòi.

Hồi đó, lần nào đi học ngang tôi cũng ghé lại. Uống một gáo nước mát dạ lúc khát khô, ngồi nghỉ chân cho đỡ mỏi vì đường xa, đụt mưa, tránh nắng. Đã bao nhiêu năm bao lượt người ghé lại, đám học trò nhỏ ngày xưa đã sắp bạc tóc dài râu, qua nhà lại nhớ bà, già mà thiệt thính tai, nghe chúng tôi khỏa gáo đã biết nước dựt tới đâu, mau mau hối con cháu châm đầy cho tụi nhỏ dễ múc. Cái nắp lu bằng sành bà sợ nặng, ngồi tỉ mỉ chầm lá để đậy, nên nước trong lu mát tới tận óc, ngọt ngào, lại thơm thoang thoảng mùi cà bắp của đám dừa nước ven sông. Cái gáo đen mịt cúi đầu chỗng mông lên cây trúc cặm kế bên cũng thơm ngây ngây mùi gỗ đã ngâm nước lâu ngày.

Nhà bà đã một lần bị bom, một lần bị bão, mấy đận mới cât, mấy lượt mới sửa sang, như có thay đổi mấy bà vẫn nhắc con giữ nguyên cái lu bộ vạc. Và một ngọn đèn, thêm một ngọn đèn chong…

Đèn chỉ tắt những đêm tôi trời, trăng sáng rồi thì cháy đỏ một tháng hai mươi mấy ngày. Hồi đó, đồn Chẹt đóng kế bên nhà, hễ chạng vạng là đám lính thấy bà đem cái đèn (loại dùng để đặt đó) ra treo ngoài hàng ba. Bọn giặc sợ, theo tra hỏi hoài, “làm ám hiệu gì cho Việt Cộng vậy bà già, hay soi đèn cho tụi nó bắn tỉa tôi?”. Bà cười ung dung: “Ám hiệu ám hiếc gì đâu, tui treo đèn là để mấy đứa nhỏ đi đêm khỏi sợ”. Đèn nhỏ, ngọn lửa chỉ le lói nhưng lạ lùng, đêm càng tối đèn càng sáng lung linh. Cái vầng sáng đó đã hắt ra tới tận bờ lá, nhuộm hồng cả một khúc đường. Tô’i nào, má tôi sai đi mua dầu hôi nước mắm ở quán chú sồi, tôi cắm đầu chạy đến đây thì dừng lại thở, nhìn cái đèn với một lòng biết ơn mênh mông. Tôi thắc mắc tại sao ai cũng cần ánh sáng mà lính đồi Chẹt thì không?

Hàng ba nhà bà, không chỉ có một mình tôi nhớ. Nhiều lắm những người khách bộ hành xuôi ngược. Người buôn ve chai lông vịt, người đi bán tranh thờ, bán chiếu… Những thợ gặt xuôi về xứ khi lúa hết mùa.. Những người đàn bà tan buổi chợ trưa.. Người ta nhớ hoài, thương hoài cái hàng ba thơm thảo đó.

Nguồn: Sưu Tầm

Bài viết liên quan